concoctia
04-22-2007, 04:24 PM
LụC Vị HOàN (ROKU MI GAN)
Thành phần và phân lượng:
1. Thang: Địa hoàng 5-6g, Sơn thù du 3g, Sơn dược 3g, Trạch tả 3g, Phục linh 3g, Mẫu đơn b́ 3g.
2. Tán: Địa hoàng 6-8g, Sơn thù du 3-4g, Sơn dược 3-4g, Trạch tả 3g, Phục linh 3g, Mẫu đơn b́ 3g.
Cách dùng và lượng dùng:
1. Thang: Có thể sắc uống như Bát vị địa hoàng thang.
2. Tán: Dùng mật ong luyện thành hoàn, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2g.
Công dụng: Trị các chứng đái khó, đái rắt, phù thũng và ngứa ở những người dễ mệt mỏi, lượng tiểu tiện giảm hoặc đái rắt, đôi khi miệng khát.
Giải thích:
Theo sách Tiểu nhi trực quyết: Thuốc này c̣n có tên là Lục vị địa hoàng hoàn. Các triệu chứng của bài thuốc này lấy triệu chứng của bài Bát vị hoàn làm tiêu chuẩn, song nó được bốc cho những người khó xác định đó là âm chứng và không dùng được Phụ tử. Do đó bài thuốc này là bài Bát vị hoàn bỏ các vị Quế chi, Phụ tử. Những người ǎn uống không ngon miệng và có chiều hướng ỉa chảy tuyệt đối không được dùng bài thuốc này.
Theo Giải thích các bài thuốc hậu thế: Bài thuốc này dùng cho những người sức khỏe yếu, sinh lư suy nhược, liệt dương, di tinh, ù tai, những người bước sang tuổi già, lưng đau, mắt mỏi và thị lực giảm sút. Bài thuốc này cũng có thể dùng dưới dạng sắc uống như Bát vị địa hoàng thang. Trong trường hợp khó phân biệt nên dùng bài thuốc này hay Bát vị hoàn bỏ Phụ tử mà thêm Hoàng bá.
Theo Liệu pháp đông y thực dụng: Thuốc dùng cho những người dễ bị mệt, vai dễ mỏi, đôi khi bị chóng mặt, nặng đầu, có cảm giác bải hoải ở vùng từ thắt lưng trở xuống, đầu gối dễ bị trẹo, đêm đi tiểu nhiều lần và mỗi lần tiểu tiện thường lại muốn uống nước, dùng tay nắn phía trên và dưới rốn người ta thấy cơ bụng phía dưới rốn yếu hơn ở phía trên rốn rất nhiều. Những người bị các chứng như vậy th́ bài thuốc này rất hiệu nghiệm.
BÀI THUỐC ĐÔNG Y
Dưỡng dương tráng cốt
Rút từ "Ngự dược viện phương" của Hứa Quốc Trinh đời Nguyên.
Ngưu tất (tẩm rượu) 25g
Thung dung (tẩm rượu) 25g
Kim linh tử (bỏ vỏ) 25g
Bổ cốt chỉ (sao lên) 25g
Hồi hương (sao lên) 25g
Lộc hương (bỏ lông) 15g
Ích trí nhân 15g
Đàn hương 15g
Phân tằm (sao lên) 15g
Tùng hương 15g
Đinh hương 15g
Thanh diêm 15g
Muối tinh 15g
Xuyên sơn giáp 15g
Sơn dược 30g
Mộc hương 30g
Ba kích 30g
Nhũ hương 30g
Cam thảo cứu 30g
Bạch truật 90g
Thanh b́ 90g
Thương truật 90g
Các loại thuốc trên đều tán bột, nấu với rượu thành hồ rồi hoàn viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 5-10g, ngày hai lần uống với nước trắng lúc đói
BÀI THUỐC ĐÔNG Y
Xuất tinh sớm
Đông y cho rằng, xuất tinh sớm phần lớn là do hư chứng. Khí âm hư hỏa vượng th́ biểu hiện của nó là: bàn chân và bàn tay nóng, lưng đau, gối mỏi, dương vật dễ cứng, giao hợp gấp gáp, mơ mộng dễ tỉnh, ngưỡng thận khí không vững vàng, sợ rét, nước tiểu nhiều và trong, đái đêm nhiều, dương vật cứng nhưng không chắc. Cách chữa:
Bài 1:
Cây xấu hổ 12g
Cây sen cạn 12g
Ngũ vị tử 10g
Mỗi ngày 1 thang, sắc làm 2 lần.
Bài 2:
Thục địa tươi 15g
Đan b́ 10g
Trạch tả 10g
Phục linh 10g
Sơn thù du 10g
Hoài sơn dược 12g
Hoàng bá 6 g
Tri mẫu 12g
Ṣ biển 30g
Long cốt 30g
Mỗi ngày 1 thang, sắc làm 2 lần.
Hai bài thuốc trên dùng cho người âm hư hoả vượng.
Bài 3:
Hạt hoa súng 50g
Hạt đào 15g
Rang lên cho thêm đường, sao lên thành bánh ngọt
Bài 4:
Mộc nhĩ trắng 5g
Kỷ tử 10g
Ngũ vị tử 5g
Rang lên, làm thành bánh để ăn.
Bài 5:
Tế tân 30g
Đinh hương 20g
Ngâm với cồn 75%, sau một tuần, trước khi giao hợp bôi vào dương vật.
Bài 6:
Ngũ bội tử 15g
Nấu nước rửa dương vật, ngày 2 lần.
BÀI THUỐC ĐÔNG Y
Chữa di mộng tinh
Theo y học cổ truyền Trung Quốc chữa di mộng tinh theo công thức sau:
Hà sa dại tạo hoàn:
Tử hà sa 40g
Thục địa 80g
Quy bản chế 80g
Đỗ trọng 60g
Hoàng bá 40g
Mạch món 40g
Thiên môn 40g
Ngưu tất 40g
Tử hà sa và thục địa tán cho thật nhuyễn, các dược liệu khác thái nhỏ, phơi khô, tán nhỏ rây bột mịn. Tất cả trộn đều, phơi ở nhiệt độ thấp cho khô, lại tán và rây bột mịn. Sau đó lấy bột luyện với mật ong, làm thành viên 10g. Ngày uống 2 lần mỗi lần 1 viên với nước sôi để nguội.
174. Sa thận (hai bên)
Biện chứng đông y: Trung tiêu hư hàn.
Cách trị: Ôn trung hành khí.
Đơn thuốc: Ôn trung hành khí thang.
Công thức: Nhục quế 5g, Can khương 10g, Đảng sâm 20g, Hoàng kỳ 20g, Cát cǎn 12g, Sài hồ 10g, Hoa binh lang 8g, Chỉ xác 12g, Cửu hương trùng 10g, Ngũ linh chi 6g, Kê nội kim 10g, Cam thảo 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Đồng thời có thể kết hợp trị bằng phép châm.
Hiệu quả lâm sàng: Cam X, nữ, 29 tuổi, công nhân, đến khám ngày 4/11/1977. Từ nǎm 1975 lại đây bụng trên đầy trướng khó chịu, vùng lưng cǎng thẳng, thân thể ngày một gày ṃn. Đă kiểm tra bằng siêu âm phát hiện hai thận sa xuống, chẩn đoán là sa thận. Dùng bài "Ôn trung hành khí thang gia giảm" để trị. Đồng thời châm các huyệt Quan nguyên, Trung quản, Túc tam lư, mỗi ngày một lần. Điều trị hơn 20 ngày bệnh t́nh cải thiện, tinh thần chuyển biến tốt, đă kiểm tra siêu âm và chụp X quang, vị trí 2 thận đều khôi phục như thường, nửa nǎm sau hỏi lại, t́nh h́nh tốt.
Bàn luận: Dùng phép Ôn trung hành khí, sử dụng bài "Ôn trung hành khí thang" để điều trị sa dạ dày cũng có kết quả tương đối tốt. Ca bệnh trên ngoài hai thận sa, dạ dày cũng sa, dùng bài trên để trị đồng thời chứng sa dạ dày cũng chuyển biến tốt, dạ dày từ dưới đường nối hai mào chậu 14 cm kéo lên c̣n 2 cm, vùng dạ dày cảm thấy dễ chịu. Đă theo dơi 64 ca sa dạ dày, chữa khỏi 32 ca, có kết quả rơ rệt 20 ca, chuyển biến tốt 9 ca, vô hiệu 3 ca.
Chứng không có tinh trùng
Biện chứng đông y: Thận khí tiên thiên hao tổn, t́ khí hậu thiên không mạnh, can mất tác dụng thúc đẩy sự sinh sản làm cho tinh trùng không có.
Cách trị: Bổ ích t́ thận b́nh can.
Đơn thuốc: Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị.
Công thức: Thục địa 50g, Sơn dược 10g, Đơn b́ 10g, Trạch tả 10g, Phụ tử 10g, Sài hồ 10g, Bạch thược 10g, Câu kỉ 25g, Vân linh 15g, Bạch truật 15g, Nhân sâm 20g, Đương qui 30g, Cam thảo 5g.
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Triệu XX, nam, 30 tuổi, công nhân, kết hôn hơn 1 nǎm, v́ vợ không có thai nên đi khám ở bệnh viện, kết quả phía vợ không bệnh tật ǵ. Xét nghiệm tinh dịch chồng th́ không có tinh trùng, đă nhiều lần điều trị vẫn không chuyển biến ǵ. Có cảm giác đau lưng, hai đùi mỏi yếu, ngoài ra việc ǎn uống đại tiểu tiện, ngủ đều b́nh thường. Vọng chẩn: dinh dưỡng khá, lưỡi đỏ ít rêu. Mạch chẩn: trầm tế mà hoăn. Xét nghiệm tinh dịch ước lượng 2 ml sắc trắng như sữa. Soi không thấy tinh trùng, nhiều lecithin.
Bàn luận: Tinh chất của sự ǎn uống gọi là tinh của hậu thiên, thận là tiên thiên, t́ là hậu thiên, tinh tiên thiên (sinh dục), được tinh của hậu thiên (ẩm thực) nuôi dưỡng th́ mới có thể sản sinh ra tinh trùng liên tục, mà trong việc ǎn uống dinh dưỡng của hậu thiên, thức ǎn muốn biến thành chất dinh dưỡng, tinh phải dựa vào sự ôn dương của thận khí, thận khí có sung túc th́ mới làm cho bệnh môn tướng hỏa chuyển được vào can đởm để có thể giúp cho sự tiêu hóa của t́ vị, do dó bệnh này phải áp dụng phép bổ ích t́ thận b́nh can. Dùng bài "Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị", sau khi uống hết 21 thang, khám tinh dịch thấy đặc dính như mầu xám, mỗi mm3 có khoảng 60 triệu tinh trùng. Uống tiếp bài này 15 thang nữa tinh trùng tǎng lên tới 70 triệu, 80% có sức hoạt động. Nǎm sau vợ sinh con gái.
Suy dinh dục (liệt dương)
Biện chứng đông y: Âm dương lưỡng khuy.
Cách trị: Tư âm tráng dương ích thận.
Đơn thuốc: Gia vị ích tinh tráng dương hoàn.
Công thức: Thục địa 15g, Sơn thù nhục 15g, Sơn dược 15g, Phục linh 12g, Câu kỷ 15g, Nhục thung dung 12g, Toả dương 12g, Dâm dương hoắc diệp 30g, Ba kích nhục 12, Bạch nhân sâm 12, Sao táo nhân 12g, Thỏ ti tử 12g, Thiên môn đông 9g, Lộc nhung 6g, Cam thảo 9g.
Tất cả đem tán mịn trộn mật làm hoàn, mỗi viên nặng 9g, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên, uống với nước đun sôi để nguội. Kiêng ǎn thức ǎn tanh, lạnh.
Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 38 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 8-11-1962. Từ nǎm 1961, bệnh nhân đă bắt đầu phát hiện khi giao hợp dương vật không cương lên được, có lúc bị hoạt tinh, sau khi đi giải có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, tim hồi hộp, khí đoản, mất ngủ, hay quên, sắc mặt xanh xạm, thể trạng béo bệu, môi lưỡi nhạt, không có rêu, tinh thần mỏi mệt, khổ năo, không thể ở trong buồng lạnh, tiếng nói nhỏ yếu, mạch huyền tế vô lực, mạch xích trầm, tŕ. Chứng này thuộc về âm dương lưỡng khuy, liệt dương. Cần trị bằng phép tư âm tráng dương ích thận. Cho dùng "Gia vị ích tinh tráng dương hoàn". Sau khi uống thuốc 1 đợt, mạch chuyển hoăn hoạt, mạch xích vẫn chậm, tự cảm thấy các triệu chứng đă giảm được tới hai phần ba, có nghĩa là âm dương của thận đă dần dần được hồi phục, lại tiếp tục dùng bài thuốc cũ, thêm hai đợt nữa, bệnh khỏi hoàn toàn.
Bàn luận: Sách "Loại chứng trị tài" viết: "Thương tổn vào trong tất (dương vật) không cương lên được, liệt dương, phần nhiều do sắc dục làm kiệt hết tinh khí, quá suy nhược, hoặc do lo nghĩ làm cho thần bị tổn thương, hoặc do sợ hăi mà tổn tới thận..., cũng có người thấp nhiệt hạ trú, gân lớn mềm nhăo mà sinh chứng liệt dương". Cǎn cứ các triệu chứng thấy trường hợp này có thể do sắc dục quá độ, kiệt tinh thương âm, âm tổn đến dương, âm dương đều khuy mà sinh liệt dương. Mạch huyền tế, mạch xích trầm, tŕ là thuộc mạch dương suy. Liệt dương hoạt tinh. Sau khi đi giải có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, không dám ở trong buồng lạnh, là dương hư âm khuy, tinh quan bất cố. Tim hồi hộp hay quên, mất ngủ là âm tinh của thận không đủ, dẫn tới tâm thận bất giao. Trị bằng phép tư âm tráng dương ích thận. Đơn thuốc này dùng Thục địa, Thù nhục, Sơn dược, Phục linh để tư âm bổ thận. Nhục thung dung là vị cam toan và ôn (ẩm) vào thận để bổ hỏa của mệnh môn, trấn tinh ích tủy, Toả dương là vị cam, ổn bổ sâm, ích tinh hưng dương, Ba kích nhục cam tân hơi ôn vào thận, làm cường âm ích tinh, Dâm dương hoắc là vị tân hương cam ôn vào can, thận, có tác dụng bổ mệnh môn, ích tinh khí, Thỏ ti tử là vị cam ôn b́nh ḥa, cường âm ích tinh, Câu kỷ là vị cam b́nh, thanh can, tư thận, ích khí sinh tinh trợ dương, Lộc nhung là vị cam ôn thuần dương, sinh tinh bổ tủy, dưỡng huyết trợ dương, làm cho dương của thận phục hồi, âm của thận sẽ đầy, sinh tinh mà khỏi bệnh. Đó thực là như "Tố Vấn - Sinh khí tông thiên luận" đă viết: "Âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị".
Suy sinh dục
Biện chứng đông y: Thận dương hư suy, tinh quan bất cố.
Cách trị: Bổ thận trợ dương, ích thận cố tinh.
Đơn thuốc: Bổ tử hoàn.
Công thức: Phá cố chỉ 240g (sao với nước muối), Vân linh 120g, Cửu tử 60g.
Đem các vị trên ngâm trong dấm cũ, mức dấm cao hơn thuốc 1 khoát ngón tay, đem ninh cạn thành bột, làm hoàn to bằng hạt thầu dầu, mỗi lần uống 20 hoàn, mỗi ngày 2 lần vào sáng sớm và tối.
Hiệu quả lâm sàng: Triết XX, nam, 25 tuổi, xă viên. Tới khám ngày 29-4-1979. Vào tháng 2, bệnh nhân bị cảm lạnh, qua điều trị thấy khỏi dần. Vài hôm sau cảm thấy đôi lúc bụng dưới và b́u dái co giật, nhưng v́ bản thân bệnh nhân không để ư, nên chẳng điều trị ǵ cả. Sau khi kết hôn, động pḥng với vợ, không lâu đă xuất hiện triệu chứng t́nh dục giảm sút, dương vật không cương lên được, hoặc có cương lên nhưng không cứng, đă qua các phương pháp điều trị bằng thuốc đông tây y mà chưa có kết quả. Gần đây lại xuất hiện di tính, hoạt tinh, kèm theo đau lưng, mỏi gối ră rời vô lực, có lúc lạnh cả người, trí nhớ giảm rơ rệt, đầu cǎng váng vất, đái vặt, kém ǎn, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch hư nhược. Cho dùng 1 liều "Bổ tử hoàn". Ngày 15-6 khám lại, sau khi bệnh nhân dùng hết 1 liều thuốc, hoạt động cương nhu của dương vật đă được phục hồi cơ bản, tinh không tự xuất, tinh thần chuyển biến tốt, cho uống thêm 1 liều, tât cả các triệu chứng đều lui, theo dơi về sau không thấy tái phát.
Bàn luận: Bệnh này là do cảm hàn đi thẳng vào quyết tâm, hàn khách can mạch, hàn chủ thu dẫn, ngưng trệ mà có lúc sinh ra cảm giác bụng dưới và bộ phận sinh dục co giật. Lại thêm sau khi cưới t́nh dục không điều độ, tổn thương đến thận dương, tinh quan bất cố, dẫn đến liệt dương. Trong bài thuốc có Bổ cốt chỉ vị tân, khổ, đại ôn bổ thận trợ dương, ích thận cố thoát, Cửu tử cam ôn cố tinh ngừng di tinh, lại dùng Phục linh là để kiện t́ ích khí hóa tinh huyết mà dưỡng tiên thiên, sắc bằng nước dấm cũ để lấy vị chua sáp làm tǎng thêm tác dụng giữ ǵn tinh khí.
Thành phần và phân lượng:
1. Thang: Địa hoàng 5-6g, Sơn thù du 3g, Sơn dược 3g, Trạch tả 3g, Phục linh 3g, Mẫu đơn b́ 3g.
2. Tán: Địa hoàng 6-8g, Sơn thù du 3-4g, Sơn dược 3-4g, Trạch tả 3g, Phục linh 3g, Mẫu đơn b́ 3g.
Cách dùng và lượng dùng:
1. Thang: Có thể sắc uống như Bát vị địa hoàng thang.
2. Tán: Dùng mật ong luyện thành hoàn, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 2g.
Công dụng: Trị các chứng đái khó, đái rắt, phù thũng và ngứa ở những người dễ mệt mỏi, lượng tiểu tiện giảm hoặc đái rắt, đôi khi miệng khát.
Giải thích:
Theo sách Tiểu nhi trực quyết: Thuốc này c̣n có tên là Lục vị địa hoàng hoàn. Các triệu chứng của bài thuốc này lấy triệu chứng của bài Bát vị hoàn làm tiêu chuẩn, song nó được bốc cho những người khó xác định đó là âm chứng và không dùng được Phụ tử. Do đó bài thuốc này là bài Bát vị hoàn bỏ các vị Quế chi, Phụ tử. Những người ǎn uống không ngon miệng và có chiều hướng ỉa chảy tuyệt đối không được dùng bài thuốc này.
Theo Giải thích các bài thuốc hậu thế: Bài thuốc này dùng cho những người sức khỏe yếu, sinh lư suy nhược, liệt dương, di tinh, ù tai, những người bước sang tuổi già, lưng đau, mắt mỏi và thị lực giảm sút. Bài thuốc này cũng có thể dùng dưới dạng sắc uống như Bát vị địa hoàng thang. Trong trường hợp khó phân biệt nên dùng bài thuốc này hay Bát vị hoàn bỏ Phụ tử mà thêm Hoàng bá.
Theo Liệu pháp đông y thực dụng: Thuốc dùng cho những người dễ bị mệt, vai dễ mỏi, đôi khi bị chóng mặt, nặng đầu, có cảm giác bải hoải ở vùng từ thắt lưng trở xuống, đầu gối dễ bị trẹo, đêm đi tiểu nhiều lần và mỗi lần tiểu tiện thường lại muốn uống nước, dùng tay nắn phía trên và dưới rốn người ta thấy cơ bụng phía dưới rốn yếu hơn ở phía trên rốn rất nhiều. Những người bị các chứng như vậy th́ bài thuốc này rất hiệu nghiệm.
BÀI THUỐC ĐÔNG Y
Dưỡng dương tráng cốt
Rút từ "Ngự dược viện phương" của Hứa Quốc Trinh đời Nguyên.
Ngưu tất (tẩm rượu) 25g
Thung dung (tẩm rượu) 25g
Kim linh tử (bỏ vỏ) 25g
Bổ cốt chỉ (sao lên) 25g
Hồi hương (sao lên) 25g
Lộc hương (bỏ lông) 15g
Ích trí nhân 15g
Đàn hương 15g
Phân tằm (sao lên) 15g
Tùng hương 15g
Đinh hương 15g
Thanh diêm 15g
Muối tinh 15g
Xuyên sơn giáp 15g
Sơn dược 30g
Mộc hương 30g
Ba kích 30g
Nhũ hương 30g
Cam thảo cứu 30g
Bạch truật 90g
Thanh b́ 90g
Thương truật 90g
Các loại thuốc trên đều tán bột, nấu với rượu thành hồ rồi hoàn viên bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần uống 5-10g, ngày hai lần uống với nước trắng lúc đói
BÀI THUỐC ĐÔNG Y
Xuất tinh sớm
Đông y cho rằng, xuất tinh sớm phần lớn là do hư chứng. Khí âm hư hỏa vượng th́ biểu hiện của nó là: bàn chân và bàn tay nóng, lưng đau, gối mỏi, dương vật dễ cứng, giao hợp gấp gáp, mơ mộng dễ tỉnh, ngưỡng thận khí không vững vàng, sợ rét, nước tiểu nhiều và trong, đái đêm nhiều, dương vật cứng nhưng không chắc. Cách chữa:
Bài 1:
Cây xấu hổ 12g
Cây sen cạn 12g
Ngũ vị tử 10g
Mỗi ngày 1 thang, sắc làm 2 lần.
Bài 2:
Thục địa tươi 15g
Đan b́ 10g
Trạch tả 10g
Phục linh 10g
Sơn thù du 10g
Hoài sơn dược 12g
Hoàng bá 6 g
Tri mẫu 12g
Ṣ biển 30g
Long cốt 30g
Mỗi ngày 1 thang, sắc làm 2 lần.
Hai bài thuốc trên dùng cho người âm hư hoả vượng.
Bài 3:
Hạt hoa súng 50g
Hạt đào 15g
Rang lên cho thêm đường, sao lên thành bánh ngọt
Bài 4:
Mộc nhĩ trắng 5g
Kỷ tử 10g
Ngũ vị tử 5g
Rang lên, làm thành bánh để ăn.
Bài 5:
Tế tân 30g
Đinh hương 20g
Ngâm với cồn 75%, sau một tuần, trước khi giao hợp bôi vào dương vật.
Bài 6:
Ngũ bội tử 15g
Nấu nước rửa dương vật, ngày 2 lần.
BÀI THUỐC ĐÔNG Y
Chữa di mộng tinh
Theo y học cổ truyền Trung Quốc chữa di mộng tinh theo công thức sau:
Hà sa dại tạo hoàn:
Tử hà sa 40g
Thục địa 80g
Quy bản chế 80g
Đỗ trọng 60g
Hoàng bá 40g
Mạch món 40g
Thiên môn 40g
Ngưu tất 40g
Tử hà sa và thục địa tán cho thật nhuyễn, các dược liệu khác thái nhỏ, phơi khô, tán nhỏ rây bột mịn. Tất cả trộn đều, phơi ở nhiệt độ thấp cho khô, lại tán và rây bột mịn. Sau đó lấy bột luyện với mật ong, làm thành viên 10g. Ngày uống 2 lần mỗi lần 1 viên với nước sôi để nguội.
174. Sa thận (hai bên)
Biện chứng đông y: Trung tiêu hư hàn.
Cách trị: Ôn trung hành khí.
Đơn thuốc: Ôn trung hành khí thang.
Công thức: Nhục quế 5g, Can khương 10g, Đảng sâm 20g, Hoàng kỳ 20g, Cát cǎn 12g, Sài hồ 10g, Hoa binh lang 8g, Chỉ xác 12g, Cửu hương trùng 10g, Ngũ linh chi 6g, Kê nội kim 10g, Cam thảo 8g. Sắc uống mỗi ngày 1 thang, chia làm 2 lần. Đồng thời có thể kết hợp trị bằng phép châm.
Hiệu quả lâm sàng: Cam X, nữ, 29 tuổi, công nhân, đến khám ngày 4/11/1977. Từ nǎm 1975 lại đây bụng trên đầy trướng khó chịu, vùng lưng cǎng thẳng, thân thể ngày một gày ṃn. Đă kiểm tra bằng siêu âm phát hiện hai thận sa xuống, chẩn đoán là sa thận. Dùng bài "Ôn trung hành khí thang gia giảm" để trị. Đồng thời châm các huyệt Quan nguyên, Trung quản, Túc tam lư, mỗi ngày một lần. Điều trị hơn 20 ngày bệnh t́nh cải thiện, tinh thần chuyển biến tốt, đă kiểm tra siêu âm và chụp X quang, vị trí 2 thận đều khôi phục như thường, nửa nǎm sau hỏi lại, t́nh h́nh tốt.
Bàn luận: Dùng phép Ôn trung hành khí, sử dụng bài "Ôn trung hành khí thang" để điều trị sa dạ dày cũng có kết quả tương đối tốt. Ca bệnh trên ngoài hai thận sa, dạ dày cũng sa, dùng bài trên để trị đồng thời chứng sa dạ dày cũng chuyển biến tốt, dạ dày từ dưới đường nối hai mào chậu 14 cm kéo lên c̣n 2 cm, vùng dạ dày cảm thấy dễ chịu. Đă theo dơi 64 ca sa dạ dày, chữa khỏi 32 ca, có kết quả rơ rệt 20 ca, chuyển biến tốt 9 ca, vô hiệu 3 ca.
Chứng không có tinh trùng
Biện chứng đông y: Thận khí tiên thiên hao tổn, t́ khí hậu thiên không mạnh, can mất tác dụng thúc đẩy sự sinh sản làm cho tinh trùng không có.
Cách trị: Bổ ích t́ thận b́nh can.
Đơn thuốc: Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị.
Công thức: Thục địa 50g, Sơn dược 10g, Đơn b́ 10g, Trạch tả 10g, Phụ tử 10g, Sài hồ 10g, Bạch thược 10g, Câu kỉ 25g, Vân linh 15g, Bạch truật 15g, Nhân sâm 20g, Đương qui 30g, Cam thảo 5g.
Sắc uống mỗi ngày 1 thang.
Hiệu quả lâm sàng: Triệu XX, nam, 30 tuổi, công nhân, kết hôn hơn 1 nǎm, v́ vợ không có thai nên đi khám ở bệnh viện, kết quả phía vợ không bệnh tật ǵ. Xét nghiệm tinh dịch chồng th́ không có tinh trùng, đă nhiều lần điều trị vẫn không chuyển biến ǵ. Có cảm giác đau lưng, hai đùi mỏi yếu, ngoài ra việc ǎn uống đại tiểu tiện, ngủ đều b́nh thường. Vọng chẩn: dinh dưỡng khá, lưỡi đỏ ít rêu. Mạch chẩn: trầm tế mà hoăn. Xét nghiệm tinh dịch ước lượng 2 ml sắc trắng như sữa. Soi không thấy tinh trùng, nhiều lecithin.
Bàn luận: Tinh chất của sự ǎn uống gọi là tinh của hậu thiên, thận là tiên thiên, t́ là hậu thiên, tinh tiên thiên (sinh dục), được tinh của hậu thiên (ẩm thực) nuôi dưỡng th́ mới có thể sản sinh ra tinh trùng liên tục, mà trong việc ǎn uống dinh dưỡng của hậu thiên, thức ǎn muốn biến thành chất dinh dưỡng, tinh phải dựa vào sự ôn dương của thận khí, thận khí có sung túc th́ mới làm cho bệnh môn tướng hỏa chuyển được vào can đởm để có thể giúp cho sự tiêu hóa của t́ vị, do dó bệnh này phải áp dụng phép bổ ích t́ thận b́nh can. Dùng bài "Tứ quân bát vị hợp tễ gia vị", sau khi uống hết 21 thang, khám tinh dịch thấy đặc dính như mầu xám, mỗi mm3 có khoảng 60 triệu tinh trùng. Uống tiếp bài này 15 thang nữa tinh trùng tǎng lên tới 70 triệu, 80% có sức hoạt động. Nǎm sau vợ sinh con gái.
Suy dinh dục (liệt dương)
Biện chứng đông y: Âm dương lưỡng khuy.
Cách trị: Tư âm tráng dương ích thận.
Đơn thuốc: Gia vị ích tinh tráng dương hoàn.
Công thức: Thục địa 15g, Sơn thù nhục 15g, Sơn dược 15g, Phục linh 12g, Câu kỷ 15g, Nhục thung dung 12g, Toả dương 12g, Dâm dương hoắc diệp 30g, Ba kích nhục 12, Bạch nhân sâm 12, Sao táo nhân 12g, Thỏ ti tử 12g, Thiên môn đông 9g, Lộc nhung 6g, Cam thảo 9g.
Tất cả đem tán mịn trộn mật làm hoàn, mỗi viên nặng 9g, mỗi ngày uống 3 lần, mỗi lần 1 viên, uống với nước đun sôi để nguội. Kiêng ǎn thức ǎn tanh, lạnh.
Hiệu quả lâm sàng: Vương XX, nam, 38 tuổi, cán bộ. Tới khám ngày 8-11-1962. Từ nǎm 1961, bệnh nhân đă bắt đầu phát hiện khi giao hợp dương vật không cương lên được, có lúc bị hoạt tinh, sau khi đi giải có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, tim hồi hộp, khí đoản, mất ngủ, hay quên, sắc mặt xanh xạm, thể trạng béo bệu, môi lưỡi nhạt, không có rêu, tinh thần mỏi mệt, khổ năo, không thể ở trong buồng lạnh, tiếng nói nhỏ yếu, mạch huyền tế vô lực, mạch xích trầm, tŕ. Chứng này thuộc về âm dương lưỡng khuy, liệt dương. Cần trị bằng phép tư âm tráng dương ích thận. Cho dùng "Gia vị ích tinh tráng dương hoàn". Sau khi uống thuốc 1 đợt, mạch chuyển hoăn hoạt, mạch xích vẫn chậm, tự cảm thấy các triệu chứng đă giảm được tới hai phần ba, có nghĩa là âm dương của thận đă dần dần được hồi phục, lại tiếp tục dùng bài thuốc cũ, thêm hai đợt nữa, bệnh khỏi hoàn toàn.
Bàn luận: Sách "Loại chứng trị tài" viết: "Thương tổn vào trong tất (dương vật) không cương lên được, liệt dương, phần nhiều do sắc dục làm kiệt hết tinh khí, quá suy nhược, hoặc do lo nghĩ làm cho thần bị tổn thương, hoặc do sợ hăi mà tổn tới thận..., cũng có người thấp nhiệt hạ trú, gân lớn mềm nhăo mà sinh chứng liệt dương". Cǎn cứ các triệu chứng thấy trường hợp này có thể do sắc dục quá độ, kiệt tinh thương âm, âm tổn đến dương, âm dương đều khuy mà sinh liệt dương. Mạch huyền tế, mạch xích trầm, tŕ là thuộc mạch dương suy. Liệt dương hoạt tinh. Sau khi đi giải có ra ít dịch trắng đục, từ eo lưng trở xuống sợ lạnh, không dám ở trong buồng lạnh, là dương hư âm khuy, tinh quan bất cố. Tim hồi hộp hay quên, mất ngủ là âm tinh của thận không đủ, dẫn tới tâm thận bất giao. Trị bằng phép tư âm tráng dương ích thận. Đơn thuốc này dùng Thục địa, Thù nhục, Sơn dược, Phục linh để tư âm bổ thận. Nhục thung dung là vị cam toan và ôn (ẩm) vào thận để bổ hỏa của mệnh môn, trấn tinh ích tủy, Toả dương là vị cam, ổn bổ sâm, ích tinh hưng dương, Ba kích nhục cam tân hơi ôn vào thận, làm cường âm ích tinh, Dâm dương hoắc là vị tân hương cam ôn vào can, thận, có tác dụng bổ mệnh môn, ích tinh khí, Thỏ ti tử là vị cam ôn b́nh ḥa, cường âm ích tinh, Câu kỷ là vị cam b́nh, thanh can, tư thận, ích khí sinh tinh trợ dương, Lộc nhung là vị cam ôn thuần dương, sinh tinh bổ tủy, dưỡng huyết trợ dương, làm cho dương của thận phục hồi, âm của thận sẽ đầy, sinh tinh mà khỏi bệnh. Đó thực là như "Tố Vấn - Sinh khí tông thiên luận" đă viết: "Âm b́nh dương bí, tinh thần năi trị".
Suy sinh dục
Biện chứng đông y: Thận dương hư suy, tinh quan bất cố.
Cách trị: Bổ thận trợ dương, ích thận cố tinh.
Đơn thuốc: Bổ tử hoàn.
Công thức: Phá cố chỉ 240g (sao với nước muối), Vân linh 120g, Cửu tử 60g.
Đem các vị trên ngâm trong dấm cũ, mức dấm cao hơn thuốc 1 khoát ngón tay, đem ninh cạn thành bột, làm hoàn to bằng hạt thầu dầu, mỗi lần uống 20 hoàn, mỗi ngày 2 lần vào sáng sớm và tối.
Hiệu quả lâm sàng: Triết XX, nam, 25 tuổi, xă viên. Tới khám ngày 29-4-1979. Vào tháng 2, bệnh nhân bị cảm lạnh, qua điều trị thấy khỏi dần. Vài hôm sau cảm thấy đôi lúc bụng dưới và b́u dái co giật, nhưng v́ bản thân bệnh nhân không để ư, nên chẳng điều trị ǵ cả. Sau khi kết hôn, động pḥng với vợ, không lâu đă xuất hiện triệu chứng t́nh dục giảm sút, dương vật không cương lên được, hoặc có cương lên nhưng không cứng, đă qua các phương pháp điều trị bằng thuốc đông tây y mà chưa có kết quả. Gần đây lại xuất hiện di tính, hoạt tinh, kèm theo đau lưng, mỏi gối ră rời vô lực, có lúc lạnh cả người, trí nhớ giảm rơ rệt, đầu cǎng váng vất, đái vặt, kém ǎn, lưỡi nhạt rêu trắng, mạch hư nhược. Cho dùng 1 liều "Bổ tử hoàn". Ngày 15-6 khám lại, sau khi bệnh nhân dùng hết 1 liều thuốc, hoạt động cương nhu của dương vật đă được phục hồi cơ bản, tinh không tự xuất, tinh thần chuyển biến tốt, cho uống thêm 1 liều, tât cả các triệu chứng đều lui, theo dơi về sau không thấy tái phát.
Bàn luận: Bệnh này là do cảm hàn đi thẳng vào quyết tâm, hàn khách can mạch, hàn chủ thu dẫn, ngưng trệ mà có lúc sinh ra cảm giác bụng dưới và bộ phận sinh dục co giật. Lại thêm sau khi cưới t́nh dục không điều độ, tổn thương đến thận dương, tinh quan bất cố, dẫn đến liệt dương. Trong bài thuốc có Bổ cốt chỉ vị tân, khổ, đại ôn bổ thận trợ dương, ích thận cố thoát, Cửu tử cam ôn cố tinh ngừng di tinh, lại dùng Phục linh là để kiện t́ ích khí hóa tinh huyết mà dưỡng tiên thiên, sắc bằng nước dấm cũ để lấy vị chua sáp làm tǎng thêm tác dụng giữ ǵn tinh khí.